Bỏ qua điều hướng
CỘNG ĐỒNG NGHIỆP VỤ QLTT

Kết nối tri thức.
Cùng nhau trưởng thành.

Mỗi kinh nghiệm được sẻ chia là một mắt xích giúp cộng đồng hiểu luật sâu hơn, xử lý công việc vững vàng hơn.

Tham gia cộng đồng →ĐỒNG HÀNHHọc hỏi · Chia sẻ · Tôn trọng
Hội nghị trao đổi nghiệp vụ của lực lượng Quản lý thị trường
ONE COMMUNITYNhiều góc nhìn · Một tinh thần
CỘNG ĐỒNG NGHIỆP VỤ QLTT

Trao đổi, chia sẻ và cùng giải quyết

T
Chia sẻ

Khi số vụ và tiền phạt trở thành thước đo: Quản lý thị trường đang đo điều gì?

Trong hoạt động Quản lý thị trường, số vụ kiểm tra, số vụ xử lý và số tiền thu phạt là những con số rất dễ nhìn thấy, dễ thống kê và dễ so sánh. Vì vậy, việc sử dụng chúng như một nhóm chỉ tiêu để đánh giá kết quả công tác là có cơ sở nhất định.

Nhưng vấn đề xuất hiện khi số vụ và số tiền xử phạt trở thành thước đo chính, thậm chí chi phối việc đánh giá công chức.

Một nghịch lý đáng suy nghĩ

Hãy thử hình dung một địa bàn mà sau nhiều năm quản lý, người kinh doanh ngày càng hiểu pháp luật; hàng giả, hàng lậu giảm; cơ sở kinh doanh chủ động khắc phục sai phạm; người tiêu dùng có ý thức hơn.

Kết quả tự nhiên phải là:

Vi phạm giảm → số vụ xử phạt giảm → tiền phạt giảm.

Nếu vẫn lấy số vụ và số tiền xử phạt làm chỉ tiêu thành tích chủ yếu, một nghịch lý sẽ xuất hiện:

Thị trường càng trật tự, công chức thực hiện tốt chức năng phòng ngừa thì thành tích định lượng lại càng khó đạt.

Ngược lại, địa bàn có nhiều vi phạm lại tạo ra nhiều "đầu vào" để kiểm tra, xử phạt và thu ngân sách.

Đây chính là điểm đặc biệt của Quản lý thị trường: xét trên phương diện phòng ngừa vi phạm, lực lượng này có thể được xem là một trong những lĩnh vực “phát triển ngược” với sự tiến bộ của xã hội.

Một bệnh viện tốt không mong có nhiều người bệnh. Cảnh sát phòng cháy không mong có nhiều vụ cháy. Và lực lượng Quản lý thị trường cũng không thể mong thị trường có nhiều vi phạm để có nhiều vụ xử lý.

Thành công cao nhất của quản lý nhà nước không phải lúc nào cũng là xử lý được nhiều vi phạm, mà còn là làm cho vi phạm ít xảy ra hơn.

Áp lực chỉ tiêu có thể làm thay đổi hành vi

Từ góc độ tâm lý tổ chức, con người thường điều chỉnh hành vi theo thứ được đo lường và khen thưởng.

Nếu một công chức biết rằng cuối năm mình chủ yếu được so sánh bằng bao nhiêu vụ, phạt bao nhiêu tiền, động lực nghề nghiệp rất dễ dịch chuyển từ:

“Làm thế nào để địa bàn mình quản lý chấp hành pháp luật tốt hơn?”

sang:

“Làm thế nào để đủ số vụ và đủ số tiền?”

Hai câu hỏi nghe gần giống nhau nhưng bản chất quản lý nhà nước hoàn toàn khác nhau.

Nếu cơ chế đánh giá kéo dài theo hướng này, nó còn có thể tạo ra những hệ quả không mong muốn: ưu tiên vụ việc dễ xử lý; chú trọng giá trị tiền phạt hơn tác động quản lý; xem nhẹ tuyên truyền, hướng dẫn và phòng ngừa vì những công việc này khó quy đổi thành con số; thậm chí hình thành tâm lý rằng “ít vi phạm” đồng nghĩa với “ít thành tích”.

Đó là một nghịch lý về động lực.

Pháp luật hiện hành cũng đặt vấn đề rộng hơn "đếm vụ"

Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15, với các quy định về đánh giá công chức được thực hiện từ ngày 01/01/2026, yêu cầu đánh giá phải đa chiều, định lượng tối đa nhưng gắn với tiến độ, chất lượng, hiệu quả và sản phẩm theo vị trí việc làm. Nội dung đánh giá không chỉ có số lượng công việc mà còn bao gồm năng lực chuyên môn, trách nhiệm, thái độ phục vụ người dân và doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo, chất lượng và tiến độ thực hiện nhiệm vụ.

Điều đó gợi mở rằng định lượng là cần thiết, nhưng định lượng không đồng nghĩa với chỉ đếm số vụ và cộng tiền phạt.

Với Quản lý thị trường, một hệ thống đánh giá hợp lý hơn có thể ghi nhận đồng thời kết quả phát hiện, xử lý vi phạm; chất lượng và độ phức tạp của vụ việc; hiệu quả quản lý địa bàn; phát hiện và xử lý vấn đề nổi cộm; tuyên truyền, hướng dẫn pháp luật; phòng ngừa tái phạm; phối hợp liên ngành; bảo vệ người tiêu dùng; chất lượng hồ sơ và đặc biệt là mức độ hoàn thành những nhiệm vụ được giao theo vị trí việc làm.

Một công chức quản lý tốt địa bàn để 100 cơ sở chủ động tuân thủ pháp luật không nhất thiết kém hiệu quả hơn một công chức xử phạt 20 cơ sở.

Đích đến cuối cùng là gì?

Có lẽ câu hỏi quan trọng nhất không phải:

“Năm nay chúng ta xử phạt được bao nhiêu vụ, thu được bao nhiêu tiền?”

mà nên là:

“Sau một năm hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường, thị trường có minh bạch hơn, người kinh doanh có tuân thủ pháp luật tốt hơn và quyền lợi người tiêu dùng có được bảo vệ tốt hơn hay không?”

Nếu câu trả lời là có, thì ngay cả khi số vụ xử phạt giảm, đó vẫn có thể là một kết quả quản lý nhà nước đáng ghi nhận.

Và ở một góc nhìn xa hơn, nếu một ngày xã hội phát triển đến mức phần lớn chủ thể kinh doanh tự giác tuân thủ pháp luật, công nghệ giúp thị trường minh bạch, vi phạm ngày càng ít và bộ máy Quản lý thị trường vì thế có thể tinh gọn hơn, thì điều đó không nhất thiết là sự thất bại của lực lượng.

Ngược lại, đó có thể chính là một biểu hiện của thành công.

Một lực lượng quản lý nhà nước thực sự hiệu quả không nên cần xã hội có nhiều vi phạm để chứng minh rằng mình cần thiết.

Vậy theo các anh/chị: Nếu không lấy số vụ và số tiền xử phạt làm chỉ tiêu chính, chúng ta nên đo hiệu quả của một Kiểm soát viên thị trường bằng những tiêu chí nào để vừa công bằng, vừa định lượng được, nhưng không tạo ra “động lực ngược”?

0 bình luận0 lượt chia sẻ
T
Chia sẻ

TĂNG MỨC PHẠT HÀNH CHÍNH: PHẠT NẶNG HƠN CÓ ĐỒNG NGHĨA VỚI RĂN ĐE TỐT HƠN?

Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) năm 2026 đang đề xuất một thay đổi đáng chú ý:

Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân:

1 tỷ → 1,5 tỷ đồng

Đối với tổ chức:

2 tỷ → 3 tỷ đồng.

Một trong những lý do được cơ quan soạn thảo đưa ra là sau hơn một thập kỷ, quy mô nền kinh tế, thu nhập và giá trị của các hoạt động kinh doanh đã thay đổi đáng kể; trong một số trường hợp, mức phạt hiện hành không còn tạo được sức răn đe tương xứng.

Nhưng từ góc nhìn của người trực tiếp kiểm tra và xử lý vi phạm, có lẽ vấn đề đáng bàn không chỉ nằm ở câu chuyện “phạt bao nhiêu tiền?”.

🤔 Thử đặt một tình huống:

Một cơ sở thu lợi 500 triệu đồng từ hành vi vi phạm nhưng cuối cùng chỉ bị phạt 50 triệu đồng.

Nếu lợi ích có thể thu được lớn hơn đáng kể so với chi phí khi bị phát hiện và xử lý, liệu chủ thể kinh doanh sẽ nhìn khoản tiền phạt là chế tài, hay đơn giản là một “chi phí kinh doanh có rủi ro”?

Ở chiều ngược lại, nếu chỉ liên tục nâng mức tiền phạt mà việc phát hiện vi phạm, chứng minh hành vi, xác định giá trị tang vật, thu lợi bất hợp pháp và tổ chức thi hành quyết định vẫn khó khăn, thì mức phạt cao trên giấy có chắc tạo ra sức răn đe cao trong thực tế?

Với hoạt động Quản lý thị trường, câu chuyện này càng đáng suy nghĩ.

Theo tôi, hiệu quả của chế tài có thể cần nhìn đồng thời ở ít nhất 4 yếu tố:

Mức phạt đủ sức răn đe × Khả năng bị phát hiện × Khả năng xử lý đúng, kịp thời × Khả năng thi hành thực tế.

Nếu một trong các yếu tố này quá thấp, chỉ tăng riêng mức tiền phạt chưa chắc giải quyết được toàn bộ vấn đề.

Và còn một câu hỏi khác:

> **Mục tiêu cuối cùng của xử phạt là thu được nhiều tiền phạt hơn, hay làm cho hành vi vi phạm ít xảy ra hơn?**

Nếu sau một thời gian, số vụ vi phạm giảm mạnh vì người kinh doanh hiểu luật và tự giác tuân thủ, đó phải chăng mới là một trong những thước đo quan trọng nhất về hiệu quả quản lý?

💬 Mời anh/chị em cùng trao đổi:

Theo kinh nghiệm thực tế của anh/chị, điều gì tạo sức răn đe lớn nhất đối với vi phạm trong hoạt động thương mại: mức tiền phạt cao, nguy cơ bị phát hiện cao, tịch thu tang vật/phương tiện, buộc nộp lại lợi bất hợp pháp, đình chỉ hoạt động, hay một yếu tố khác?

Và nếu được góp ý cho Luật Xử lý vi phạm hành chính lần này, anh/chị muốn thay đổi điều gì nhất để việc xử lý của lực lượng QLTT vừa nghiêm minh, vừa khả thi và thực chất?

0 bình luận0 lượt chia sẻ
Trao đổi pháp luật

Thẩm quyền trong xử lý vi phạm hành chính của Kiểm soát viên thị trường

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 189/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2025) quy định chi tiết về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) đã thiết kế cho Kiểm soát viên thị trường (KSVTT) có thẩm quyền xử phạt và ký các quyết định khác liên quan (tạm giữ, kéo dài, trả lại...). Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này đang gây ra nhiều vướng mắc, đặc biệt xoay quanh tính pháp lý của con dấu và sự chuyển giao thẩm quyền.

I. Điều kiện "Đang thi hành công vụ" và Vấn đề Thời hạn

Thẩm quyền của KSVTT được quy định tại Khoản 1 Điều 12 Nghị định 189/2025/NĐ-CP, nêu rõ: "Kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ có quyền...". Điều này khẳng định trạng thái "đang thi hành công vụ" là điều kiện tiên quyết và là giới hạn pháp lý để KSVTT được phép ký các quyết định.

Trong thực tế hoạt động của Quản lý thị trường (QLTT), việc "đang thi hành công vụ" được cụ thể hóa bằng việc KSVTT đang thực hiện nhiệm vụ theo một Quyết định kiểm tra (thông thường có thời hạn 03 ngày làm việc). Do đó, Quyết định xử phạt (cũng như quyết định tạm giữ) do KSVTT ban hành phải nằm trong thời hạn hiệu lực của Quyết định kiểm tra này. Quyết định tạm giữ, vốn phải được ký trong vòng 24 giờ kể từ khi lập biên bản, cũng phải đảm bảo không vượt quá thời hạn kiểm tra.

II. Nguyên tắc Thứ bậc và Chuyển giao Thẩm quyền

Về vấn đề liệu vụ việc thuộc thẩm quyền của KSVTT nhưng lại chuyển cho Đội trưởng ký có hợp pháp không, cần áp dụng nguyên tắc thứ bậc hành chính và nguyên tắc thụ lý. Luật Xử lý VPHC quy định: "Trong trường hợp hành vi vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người, thì việc xử phạt vi phạm hành chính do người thụ lý đầu tiên thực hiện."

Trong thời hạn kiểm tra: Nếu KSVTT là trưởng đoàn kiểm tra (không phải Đội trưởng), KSVTT chính là người thụ lý đầu tiên. Do đó, KSVTT bắt buộc phải ra quyết định xử phạt nếu vụ việc thuộc thẩm quyền của mình.

Sau khi vượt quá thời hạn kiểm tra: Nếu KSVTT không ra quyết định trong thời hạn "đang thi hành công vụ" (hết thời hạn Quyết định kiểm tra), thì thẩm quyền sẽ chuyển lên Đội trưởng để đảm bảo việc xử lý không bị gián đoạn.

III. Tháo gỡ nút thắt về Sử dụng Con dấu

Vấn đề gây lúng túng nhất là việc sử dụng con dấu trên các quyết định do KSVTT ký.

Quy định Pháp lý về Dấu: Các mẫu biên bản, quyết định (theo Nghị định 118/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung) ghi tại phần ký là "(Ký, đóng dấu (nếu có); ghi rõ họ và tên)". Điều này cho thấy việc đóng dấu trực tiếp không phải là yêu cầu bắt buộc khi người ký không phải là người đứng đầu hoặc cấp phó được giao quyền (tức là người không được quyền đóng dấu trực tiếp, như KSVTT).

Sự cần thiết của Dấu Treo: Mặc dù Luật không yêu cầu dấu trực tiếp, nhưng Quyết định là văn bản có tính pháp lý cao, ảnh hưởng đến các cơ quan liên quan (Kho bạc, ngân hàng...). Do đó, các văn bản này cần phải có con dấu để đảm bảo tính pháp lý. Quy định nội bộ QLTT đã hướng dẫn trong trường hợp đối với mẫu ấn chỉ in sẵn, người ký không có quyền đóng dấu trực tiếp thì phải đóng dấu của cơ quan sử dụng biểu mẫu vào phía trên góc trái trùm lên một phần tên cơ quan ban hành (đóng dấu treo).

Điều kiện để đóng Dấu Treo: Để việc đóng dấu treo được thực hiện hợp pháp, KSVTT cần căn cứ vào Nghị định về công tác văn thư. Khoản 1 Điều 33 Nghị định 30/2020/NĐ-CP quy định: "Việc đóng dấu treo, dấu giáp lai, đóng dấu nổi trên văn bản giấy do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quy định".

Do đó, Các cơ quan, đơn vị QLTT bắt buộc phải ban hành Quy chế sử dụng con dấu để quy định rõ ràng quy trình, điều kiện sử dụng dấu treo. Do phải đóng dấu treo (dấu của cơ quan) nên tất cả các Quyết định do KSVTT ban hành (không phải là mẫu in sẵn) phải được thực hiện tại trụ sở cơ quan, đơn vị QLTT.

IV. Xử lý VPHC không lập biên bản (Xử phạt tại chỗ)

Trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000 đồng (cá nhân), 1.000.000 đồng (tổ chức), người có thẩm quyền (bao gồm KSVTT) phải ra quyết định xử phạt tại chỗ (theo Luật Xử lý VPHC).

Để thực hiện đúng quy định này, lực lượng QLTT cần được trang bị đầy đủ:

Mẫu ấn chỉ in sẵn (MQĐ01): Vì việc xử phạt tại chỗ thực hiện ngoài trụ sở, Quyết định xử phạt không lập biên bản in sẵn phải được đóng dấu treo trước.

Chứng từ thu tiền phạt: Cần có biên lai hoặc chứng từ thu tiền phạt để thu phạt tại chỗ theo quy định, tương tự như lực lượng Cảnh sát Giao thông.

Do đó, Để công chức QLTT có thể thực thi đầy đủ thẩm quyền đã được Luật thiết kế, cần có các giải pháp đồng bộ:

- Cấp có thẩm quyền cần nghiên cứu thiết kế quy định về thời hạn thực hiện Quyết định kiểm tra dài hơn để KSVTT có đủ thời gian thực hiện thẩm quyền.

- Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị QLTT phải khẩn trương ban hành Quy chế sử dụng con dấu nội bộ.

- Cấp có thẩm quyền cần cấp phép và trang bị Mẫu Quyết định xử phạt VPHC không lập biên bản in sẵn (có dấu treo) và chứng từ thu tiền phạt cho lực lượng QLTT. 

0 bình luận0 lượt chia sẻ
Chia sẻ

Hoàn thiện phương pháp viện dẫn quy định pháp luật trong trường hợp có sửa đổi, bổ sung

Hiện nay mình thấy việc đẫn chiếu quy định được sửa đổi, bổ sung vẫn chưa thông nhất, Vấn đề này cũng chưa có một quy định cụ thể, một số văn bản hướng dẫn cũng chỉ nêu rõ là “tài liệu tham khảo”.

Một số quy định liên quan mà ta cần nghiên cứu để áp dụng: 

Tại Phụ lục Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ về công tác văn thư  có quy định: "Khi viện dẫn lần đầu văn bản có liên quan, phải ghi đầy đủ tên loại, số, ký hiệu của văn bản, thời gian ban hành văn bản, tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và trích yếu nội dung văn bản (đối với Luật và Pháp lệnh chỉ ghi tên loại và tên của Luật, Pháp lệnh); trong các lần viện dẫn tiếp theo, chỉ ghi tên loại và số, ký hiệu của văn bản đó". Đồng thời, theo tinh thần tại khoản 1 Điều 68 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP:

“1. Việc viện dẫn văn bản được thực hiện như sau:

a) Đối với văn bản được viện dẫn là luật, pháp lệnh, khi viện dẫn phải ghi đầy đủ tên văn bản và số, ký hiệu của văn bản; đối với văn bản đã được sửa đổi, bổ sung thì ghi thêm sau tên văn bản, số, ký hiệu của văn bản cụm từ “được sửa đổi, bổ sung bởi” và tên loại văn bản, số, ký hiệu của văn bản sửa đổi, bổ sung; trường hợp được sửa đổi, bổ sung nhiều lần thì từ lần sửa đổi, bổ sung lần thứ hai trở đi chỉ ghi tên loại văn bản, số, ký hiệu của văn bản sửa đổi, bổ sung;

Lần viện dẫn tiếp theo, ghi tên loại văn bản, số, ký hiệu của văn bản; đối với văn bản đã được sửa đổi, bổ sung thì ghi thêm sau số, ký hiệu của văn bản cụm từ “được sửa đổi, bổ sung bởi” và tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản;

b) Đối với văn bản khác, khi viện dẫn lần đầu phải ghi tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản và tên gọi của văn bản. Đối với văn bản đã được sửa đổi, bổ sung thì ghi thêm sau tên gọi của văn bản cụm từ “được sửa đổi, bổ sung bởi” và tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản; trường hợp được sửa đổi, bổ sung nhiều lần thì từ lần thứ hai trở đi chỉ ghi tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản.

Lần viện dẫn tiếp theo, ghi tên loại văn bản, số, ký hiệu của văn bản; đối với văn bản đã được sửa đổi, bổ sung thì ghi thêm sau số, ký hiệu của văn bản cụm từ “được sửa đổi, bổ sung bởi” và tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản.”

Chúng ta đi phân tích một trường hợp cụ thể để tìm ra cách thức thể hiện phù họp nhất, đó là tình huống lên quan đến hành vi: “Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ”

Tại Nghị định số 98/2020/NĐ-CP hành vi này được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 17.

Tại điểm a khoản 3 Điều 1 Nghị định số 24/2025/NĐ-CP sửa đổi đổi tên Điều 17 và sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 17: hành vi này được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17.

Thực tế, anh em đang làm theo một văn bản hướng dẫn gần nhất theo hướng: 

“điểm khoản điều ở văn bản gốc” + “tên Văn bản gốc” + “được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại” + ”điểm khoản điều có chứa quy định sửa đổi ‘điểm khoản điều ở văn bản gốc’ ở văn bản sửa đổi, bổ sung”+ tên Văn bản sửa đổi, bổ sung”.

Tức là: trong trường hợp cụ thể trên, khi dẫn chiếu lần đầu sẽ ghi là: 

Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 3 Điều 1 Nghị định số 24/2025/NĐ-CP.


Mặc dù cách viện dẫn cũ rất phổ biến và dễ tra cứu ngược dòng lịch sử văn bản khi chỉ qua một lần sửa đổi, nhưng khi đặt vào bối cảnh hệ thống pháp lý hiện tại, nó bộc lộ ba điểm yếu chí mạng:

-Thứ nhất, xung đột về mặt hiệu lực và logic ngữ văn: Khi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP có hiệu lực, nó đã thay thế hoàn toàn cấu trúc cũ của khoản 1 Điều 17. Về mặt pháp lý, "điểm c khoản 1" tại văn bản gốc không còn tồn tại cấu trúc đó nữa, mà đã chuyển thành "điểm a khoản 1". Việc tiếp tục viện dẫn "điểm c khoản 1 Điều 17 Nghị định 98..." là viện dẫn vào một điều khoản đã bị khai tử/thay thế, không phản ánh đúng trạng thái pháp luật tại thời điểm lập biên bản.

-Thứ hai, bất khả thi khi văn bản bị sửa đổi, bổ sung nhiều lần: Hành vi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ thực tế còn chịu sự điều chỉnh liên đới của Nghị định số 17/2022/NĐ-CP (vẫn đang có hiệu lực). Nếu áp dụng công thức cũ cho một điều khoản bị xé lẻ, sửa đổi bởi 2-3 văn bản khác nhau, câu văn viện dẫn sẽ trở nên cực kỳ dài dòng, rối rắm và không thể xác định nổi đâu là "điểm, khoản" gốc cuối cùng cần áp dụng.

-Thứ ba, không áp dụng được cho trường hợp "Bổ sung": Nếu văn bản mới bổ sung hẳn một "điểm đ" hoàn toàn mới vào sau "điểm d" của văn bản gốc, thì văn bản gốc làm gì có "điểm đ" để mà viết theo công thức: [điểm đ văn bản gốc] + được bổ sung tại [văn bản mới]. Cách viết này hoàn toàn bị bế tắc về mặt logic.


Để xử lý triệt để các vướng mắc trên, đảm bảo đúng tinh thần Khoản 1 Điều 68 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, chúng ta cần thay đổi tư duy: Viện dẫn địa chỉ điều khoản theo trạng thái đã hợp nhất (đang có hiệu lực tại thời điểm áp dụng), sau đó định danh toàn bộ tập hợp các văn bản làm nên trạng thái đó.


Công thức đề xuất:

"Điểm, khoản, điều hiện tại sau hợp nhất" + "Tên văn bản gốc" +"được sửa đổi, bổ sung bởi" + "Tên các văn bản sửa đổi theo thứ tự thời gian".

Trong đó: ("Tên văn bản gốc" +"được sửa đổi, bổ sung bởi" + "Tên các văn bản sửa đổi theo thứ tự thời gian") là cách trình bày thay thế cho văn bản hợp nhất.

Ví dụ: với trường hợp cu thể của hành vi ” Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ”, trong trường hợp viện dẫn lần đầu, chúng ta sẽ ghi là: 

Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2022/NĐ-CP và Nghị định số 24/2025/NĐ-CP.


Ưu điểm vượt trội của phương pháp đề xuất:

 Thứ nhất: Tính chính xác tuyệt đối: Chỉ rõ "địa chỉ" điều khoản đang trực tiếp có hiệu lực áp dụng tại thời điểm xử lý vi phạm (điểm a khoản 1 Điều 17), tránh việc người vi phạm bắt bẻ "điểm c không còn tồn tại".


- Thứ hai: Bao quát toàn diện và khoa học: Tuân thủ hoàn hảo tinh thần kỹ thuật lập pháp tại Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, đồng thời giúp người đọc nhìn rõ được "lịch sử biến động" của văn bản thông qua việc liệt kê các văn bản sửa đổi liên tiếp (Nghị định 17 rồi đến Nghị định 24).


- Thứ 3: Tính vạn năng: Áp dụng trơn tru cho mọi trường hợp, dù điều khoản đó là Sửa đổi (thay thế nội dung cũ) hay Bổ sung (thêm nội dung hoàn toàn mới).


(Chú ý: Cần phân biệt "Viện dẫn" và "Căn cứ": Theo phụ lục của Nghị định 30/2020/NĐ-CP: "Căn cứ ban hành văn bản bao gồm văn bản quy định thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và các văn bản quy định nội dung, cơ sở để ban hành văn bản. Căn cứ ban hành văn bản được ghi đầy đủ tên loại văn bản, số, ký hiệu, cơ quan ban hành, ngày tháng năm ban hành văn bản và trích yếu nội dung văn bản (riêng Luật, Pháp lệnh không ghi số, ký hiệu, cơ quan ban hành)."

Update:

Trên tinh thần đó, từ ngày 01/7/2026, với việc Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi, bổ sung năm 2026) có hiệu lực. Chúng ta có thể áp dụng như sau:

Về bản chất, văn bản hợp nhất không phải là một văn bản quy phạm pháp luật mới, mà nó chỉ là kỹ thuật "gộp" văn bản gốc và các văn bản sửa đổi lại với nhau để người đọc dễ theo dõi. Tại khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật có quy định: 

 - "Văn bản hợp nhất được cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng làm căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật." thay thế cho nội dung "Văn bản hợp nhất được sử dụng chính thức trong việc áp dụng và thi hành pháp luật."

Do đó, với quy định trên, từ 01/7/2026 chúng ta có thể viện dẫn các văn bản hợp nhất khi lập các biên bản, quyết định trong quá trình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cũng như trong các văn bản hành chính thông thường và các loại văn bản khác..

Cách viên dẫn văn bản hợp nhất như sau:


1. Đối với văn bản hợp nhất của luật, pháp lệnh:

 - Ghi tên, số, ký hiệu của luật, pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung và cụm từ được đặt trong dấu ngoặc đơn bao gồm “hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số” kèm theo số, ký hiệu của văn bản hợp nhất;

Ví dụ: ...theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 67/VBHN-VPQH).


2.  Đối với văn bản hợp nhất của văn bản không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này do cơ quan, người có thẩm quyền ở Trung ương ban hành (Nghị định, Quyết định, Thông tư...)

- Ghi tên loại, số, ký hiệu, tên gọi của văn bản được sửa đổi, bổ sung và cụm từ được đặt trong dấu ngoặc đơn bao gồm “hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số” kèm theo số, ký hiệu của văn bản hợp nhất.

Ví dụ: ... theo quy định tại Nghị định số 98/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BCT)

Khác biệt lớn nhất ở đây là: Với văn bản gốc, không cần phải ghi ngày tháng năm và cơ quan ban hành vì trong số ký hiệu đã có năm ban hành và Nghị định mặc nhiên là của Chính phủ..


3. Đối với văn bản hợp nhất của văn bản do cơ quan, người có thẩm quyền ở địa phương ban hành

- Ghi tên loại, số, ký hiệu, cơ quan, người ban hành văn bản, tên gọi của văn bản được sửa đổi, bổ sung và cụm từ được đặt trong dấu ngoặc đơn bao gồm “hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số” kèm theo số, ký hiệu của văn bản hợp nhất.

Ví dụ: theo Quyết định số 20/2021/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-UBND)

Điểm khác biệt lớn nhất so với trung ương là ở địa phương bắt buộc phải ghi rõ cơ quan hoặc người ban hành văn bản (vì tỉnh nào, huyện nào cũng có thể ban hành Nghị quyết/Quyết định trùng số hiệu).


4. Trường hợp văn bản được sửa đổi, bổ sung tên gọi

- Viện dẫn theo tên gọi đã được sửa đổi, bổ sung.

Đôi khi, một văn bản sửa đổi không chỉ sửa nội dung mà sửa luôn cả cái tên (tiêu đề) của văn bản gốc. Lúc này, khi trích dẫn, bạn không được dùng tên cũ nữa mà phải dùng tên mới nhất đã sửa đổi.

Ví dụ cụ thể: Giả sử năm 2022 ban hành Quyết định A về quản lý chợ. Năm 2024, một Quyết định sửa đổi đổi tên Quyết định A thành Quyết định về quản lý chợ và trung tâm thương mại.

Khi viện dẫn sẽ ghi: "...theo Quyết định số [Số của quyết định A] về quản lý chợ và trung tâm thương mại (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số...)..."


5. Việc viện dẫn phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản hợp nhất

Phải nêu rõ số thứ tự của phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản hoặc thứ tự điểm trong văn bản hợp nhất.”.

Ví dụ: Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BCT).


Chú ý: Trong trường hợp không dẫn chiếu văn bản hợp nhất thì ghi theo form cũ; Phần Căn cứ không áp dụng hướng dẫn trên, chỉ áp dụng ở viện dẫn; Văn bản hợp nhất được viện dẫn phải là văn bản mới nhất.


Câu hỏi mở: Theo các anh, chị, em vì sao khi viện dẫn đến điểm, khoản, Điều trong các Nghị định lại không cần viện dẫn đến phần, chương, mục, tiểu mục !?

0 bình luận0 lượt chia sẻ
Chia sẻ

Bản chất của kế hoạch kiểm tra

Pháp lệnh Quản lý thị trường ngày 08 tháng 3 năm 2016 quy định lực lượng Quản lý thị trường có 03 hình thức kiểm tra: Kiểm tra định kỳ; Kiểm tra chuyên đề; Kiểm tra đột xuất.

Kiểm tra đột xuất là hoạt động công vụ gắn liền và là hình thức kiểm tra chiếm tỷ trọng lớn nhất trong 03 hình thức kiểm tra. Tuy nhiên, với một tỷ trọng ít hơn, kiểm tra định kỳ và kiểm tra chuyên đề lại là hình thức kiểm tra cực kỳ quan trọng, nó ảnh hưởng đến việc xem xét sửa đổi chính sách, chỉ đạo, điều hành trong công tác quản lý thị trường của cấp có thẩm quyền. Hai hình thức kiểm tra này được thực hiện thông qua Kế hoạch kiểm tra. Mặc dù Kế hoạch kiểm tra định kỳ và kế hoạch kiểm tra chuyên đề có một số khác biệt, tuy nhiên nó vẫn có những bản chất chung của kế hoạch mà nếu không hiểu rõ, chúng có thể bị ban hành và áp dụng một cách tùy tiện..

Các văn bản pháp luật quy định về căn cứ, nội dung, trình tự ban hành.. của Kế hoạch kiểm tra của lực lượng Quản lý thị trường rất cụ thể. Tuy nhiên, đó chỉ là quy trình, còn để nắm được bản chất của Kê hoạch kiểm tra, chúng ta phải đi phân tích các yếu tố liên quan để hiểu rõ hơn, cụ thể như sau:

1. Vì sao kế hoạch phải được định hướng, ban hành, phê duyệt ?

Căn cứ vào tình hình thị trường, nhu cầu quản lý nhà nước, phạm vi thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng, người có thẩm quyền sẽ định hướng về đối tượng, lĩnh vực, nội dung kiểm tra cho các đơn vị câp dưới xây dựng kế hoạch kiểm tra và tổ chức thực hiện một cách cụ thể để qua đó, đánh giá được mức độ chấp hành pháp luật, các bất cập trong chính sách, quy định của pháp luật để có căn cứ chỉ đạo, điều hành hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế, thời cuộc..

Vì có những chính sách, quy định mới được ban hành, cần thông qua kiểm tra theo kế hoạch để khuyết khích việc tìm hiểu các quy định mới pháp luật của đối tượng được kiểm tra. 

Do đó, đơn vị xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện phải tuân thủ tuyệt đối định hướng, kế hoạch với bất kỳ nội dung nào của kế hoạch! Vì khi bỏ khuyết nội dung thì người định hướng, ban hành kế hoạch sẽ không đánh giá được đầy đủ theo ý định đã đưa ra trước đó.

2. Vì sao Kế hoạch kiểm tra phải được gửi cho đối tượng kiểm tra ngày sau khi được phê duyệt hoặc ban hành ?

Khoản 1 Điều 20 Pháp lệnh Quản lý thị trường ngày 08 tháng 3 năm 2016 quy định: “ Kế hoạch kiểm tra định kỳ và chuyên đề được gửi cho đối tượng được kiểm tra và cơ quan, tổ chức có liên quan ngay sau khi được phê duyệt hoặc ban hành.”. Như vậy, đối tượng kiểm tra theo kế hoạch sẽ biết trước được rằng: Trong khoảng thời gian đó mình sẽ được kiểm tra với nội dung kiểm tra cụ thể. 

Quy định này nhằm mục đích tạo sự chuẩn bị, khuyến khích cho đối tượng được kiểm tra tìm hiểu pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh và các nội dung mà mình sẽ được kiểm tra. Từ đó, tự giác sửa chữa những hạn chế, tồn tại mà doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân mình đang gặp phải, ngăn chặn lỗi vi phạm trước khi nó trở nên nghiêm trọng hơn, nếu có tình huống nào đó mà giữa chính sách, quy định của pháp luật còn chông chênh so với thực tế, họ sẽ phản ánh lại với cấp có thẩm quyền thông qua Đoàn kiểm tra.

3. Lựa chọn nhóm đối tượng đưa vào kế hoạch kiểm tra

Để làm được các điều trên, việc lựa chọn đối tượng kiểm tra phải phù hợp theo những tiêu chí cụ thể theo các vấn đề, nội dung, lĩnh vực, địa bàn mà kế hoạch đề ra.

1. Nhóm đối tượng mới hoạt động kinh doanh: Nhóm đối tượng này phải là những cá nhân, tổ chức có khả năng kinh doanh lâu dài. Việc kiểm tra đối với nhóm đối tượng này nhằm mục đích kịp thời chấn chỉnh những sai phạm, không để các sai phạm này kéo dài dai dẳng hoặc trở nên nghiêm trọng hơn, giúp doanh nghiệp đi vào khuôn khổ hoạt động theo quy định của pháp luật ngay từ đầu.

2. Nhóm đối tượng đã kinh doanh lâu dài: Nhóm đối tượng này mức độ am hiểu pháp luật tương đối tốt thể hiện qua việc hoạt động kinh doanh ổn định trong nhiều năm. Kiểm tra đối với nhóm đối tượng này nhằm mục đích tìm kiếm, khảo sát các chính sách, quy định của pháp luật tác động thế nào đến với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đoàn kiểm tra phải nhạy bén, thu thập thông tin, ghi nhận kiến nghị của đối tượng được kiểm tra để tham mưu lãnh đạo thể hiện trong báo cáo, đề xuất các giải pháp khắc phục hạn chế hoặc phát huy các mặt tích cực.

3. Nhóm đối tượng có dấu hiệu, tuy nhiên cần phải kiểm tra sâu để có căn cứ cụ thể xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì thế, kế hoạch kiểm tra phải luôn thể hiện được các mục đích chủ yếu sau:

- Đánh giá tình hình thực thi pháp luật, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực kiểm tra.

- Đánh giá, phát hiện những bất cập trong cơ chế, chính sách, quy định của các cấp có thẩm quyền, tổng hợp kiến nghị của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực kiểm tra của kế hoạch để các cấp có thẩm quyền xem xét, thay đổi phù hợp.

- Khuyến khích việc tìm hiểu, nâng cao nhận thức về chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực kiểm tra của kế hoạch trên địa bàn.

- Phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm.

...

Kính mong các đồng nghiệp cùng thảo luận thêm các góc nhìn khác về bản chất của Kế hoạch kiểm tra, để cùng nhau hiểu rõ, xây dựng và tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao nhất ! 

0 bình luận0 lượt chia sẻ
Chia sẻ

1. Bản chất của Nội dung kiểm tra và cách thức thể hiện:

Nội dung kiểm tra là một nội dung quan trọng tại Quyết định kiểm tra, việc thể hiện nội dung kiểm tra như thế nào cho hợp lý, cụ thể và bảo đảm cho người thực thi Quyết định có thể hoàn thành đúng, chính xác ý tưởng của Người ra Quyết định kiểm tra là rất quan trọng.

Theo Điều 17 Pháp lệnh Quản lý thị trường năm 2016 thì phạm vi kiểm tra của lực lượng Quản lý thị trường là kiểm tra việc chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ. Do đó, việc kiểm tra của lực lượng Quản lý thị trường là việc kiểm tra, đối chiếu hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực tế của tổ chức, cá nhân với các quy định của pháp luật, từ đó xem xét, kết luận việc chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân đó.

Vì thế trong nội dung kiểm tra, bắt buộc phải có tiền tố “Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về”. Hậu tố của nội dung kiểm tra phải là một nhóm quy định hoặc quy định cụ thể nào đó, thường là đề mục của một Điều, chương, Nghị định nào đó. 

Ví dụ 1: 

Muốn kiểm tra việc chấp hành pháp luật về nhãn hàng hóa của tổ chức, cá nhân. Chiếu theo quy định về nhãn hàng hóa, các quy định này được quy định tại Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 về nhãn hàng hóa. Do đó. Chúng ta kết hợp giữa tiền tố “Kiểm tra việc chấp hành pháp luật” và hậu tố là trích yếu “nhãn hàng hóa” của Nghị định 43/2017/NĐ-CP. Chúng ta sẽ có nội dung kiểm tra “Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về nhãn hàng hóa”. Khi đó, người thực thi quyết định kiểm tra, sẽ đối chiếu hoạt động kinh doanh thực tế với các quy định trong Nghị định số 43/2017/NĐ-CP để xem xét và đưa ra kết luận về việc chấp hành các quy định về nhãn hàng hóa.

Ví dụ 2: 

Muốn kiểm tra việc chấp hành pháp luật về niêm yết giá của tổ chức, cá nhân. Chiếu theo quy định về việc niêm yết giá giữa Luật giá và Nghị định số 177/2013/NĐ-CP, ta có thể thấy tại Luật Giá, việc quy định về niêm yết giá còn chưa cụ thể, nhưng tại Nghị định 177/2013/NĐ-CP được quy định cụ thể về thực hiện việc niêm yết giá và đề mục cụ thể tại Mục 2 của Nghị định 177/2013/NĐ-CP có tên là “Niêm yết giá”. Do đó. Chúng ta kết hợp giữa tiền tố “Kiểm tra việc chấp hành pháp luật” và hậu tố là tiêu đề của “Mục 2” Nghị định 177/2013/NĐ-CP. Khi đó chúng ta sẽ có nội dung là: “Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về niêm yết giá”(Chú ý về thẩm quyền ban hành Quyết định kiểm tra). Khi đó, người thực thi quyết định kiểm tra, sẽ đối chiếu hoạt động kinh doanh thực tế với các quy định trong Mục 2 của Nghị định 177/2013/NĐ-CP để xem xét và đưa ra kết luận về việc chấp hành các quy định về niêm yết giá.

Tuy nhiên. Với các hành vi không có đề mục cụ thể chúng ta cũng cần phải lựa chọn câu từ trong các văn bản pháp luật để thể hiện sao cho hợp lý. Ví dụ: Với hành vi “Kinh doanh hàng hóa nhập lậu”. Chúng ta có thể lực chọn ngôn ngữ thể hiện tại Thông tử Liên tịch số: 64/2015/TTLT-BTC-BCT-BCA-BQP ngày 08/5/2015 quy định chế độ hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường. Tại Thông tư này, sử dụng cụm từ: “Xuất trình hóa đơn, chứng từ để chứng minh tính hợp pháp của hàng hóa nhập khẩu”. Dó đó. Kết hợp giữ tiền tố “ Kiểm tra việc chấp hành pháp luật” và cụm từ trên ta có nội dung kiểm tra: “Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tính hợp pháp của hàng hóa nhập khẩu.”. Khi đó, người thực thi quyết định kiểm tra, sẽ đối chiếu các quy định tại Thông tư này để xem xét tính hợp pháp của hàng hóa nhập khẩu đang kính doanh tại cơ sở để xem xét, kết luận đó có phải là hàng hóa nhập lậu (không hợp pháp) hay không.

…..

2. Phân biệt giữa nội dung kiểm tra và động tác kiểm tra. 

Hiện nay , có một số cách thức thể hiện nội dung kiểm tra như sau:

Ví dụ: Kiểm tra hàng hóa và hóa đơn, chứng từ liên quan đến hàng hóa. 

Việc thể hiện nội dung kiểm tra như thế này không cụ thể, và người thực thi việc kiểm tra không xác định được các quy định cần đối chiếu ở đâu và ý tưởng của người ban hành quyết định là muốn xem xét, kết luận việc chấp hành quy định về hành vi gì. Cuối cùng, kết quả của việc này có thể dẫn đến nhiều kết luận khác nhau, có thể là “kinh doanh hàng hóa nhập lậu”, “kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ”… rất tùy tiện. 

Nhưng nếu thể hiện Nội dung kiểm tra là: “Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa” thì người thực thi Quyết định kiểm tra sẽ hiểu là Đối chiếu các quy định cụ thể về nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa để xem xét, kết luận việc chấp hành pháp luật. Còn “Kiểm tra hàng hóa và hóa đơn, chứng từ liên quan đến hàng hóa” là một động tác để phục vụ cho việc xem xét, kết luận đó.

"Kiểm tra hàng hoá và hoá đơn chứng từ" không phải là kiểm tra việc chấp hành pháp luật mà nó là chỉ là cái động tác nhằm mục đích tìm kiếm, phục vụ cho một nội dung kiểm tra nhất định nào đó. Ví dụ: Hai nội dung kiểm tra khác nhau như: "Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tính hợp pháp của hàng hoá nhập khẩu" và nội dung" Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá" đều sử dụng động tác" Kiểm tra hàng hoá và hoá đơn, chứng từ kèm theo".. nhưng quy định dùng để so sánh, đối chiếu để đưa ra kết luật chấp hành pháp luật lại khác nhau.. để đưa đến các kết luận vể việc chấp hành pháp luật khác nhau./.

Ngoài ra, để cho nội dung kiểm tra được cụ thể hơn, ta có thể bổ sung thông tin giải thích, làm rõ, chú thích, hoặc cung cấp thêm chi tiết về mặt hàng, tính chất vi phạm cụ thể và để trong dấu ngoặc đơn để công chức thực hiện Quyết định kiểm tra có thể nhắm trúng đích ngay.

Do đó,

I. Đối với kiểm tra đột xuất, ta có công thức của nội dung kiểm tra gồm 3 phần:

1. Tiền tố: "Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về"

2. Hậu tố: Tên của đề mục của khoản/Điều/Mục/Chương/Nghị định/Luật..  quy định pháp luật liên quan một cách cụ thể nhất được dùng mô tả và dẫn chiếu trong biên bản kiểm tra, mô tả hành vi để người thực thi Quyết định kiểm tra đối chiếu, xem xét.

3. Chú thích được đặt trong ngoặc kép: Tình huống pháp luật cụ thể như mặt hàng, yếu tô vi phạm, hành động cụ thể.. nhằm cụ thể hóa, dễ dàng cho người thực thi Quyết định kiểm tra.

Ví dụ: Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá (mặt hàng quần áo may sẵn)

II. Đối với nội dung kiểm tra theo kế hoạch, vì nhóm ngành nghề, mặt hàng đã được ghi cụ thể trong kế hoạch kiểm tra, nên nội dung kiểm tra chỉ gồm 2 yếu tố:

1. Tiền tố: "Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về"

2. Hậu tố: Tên của đề mục của khoản/Điều/Mục/Chương/Nghị định/Luật..  quy định pháp luật liên quan một cách cụ thể nhất được dùng mô tả và dẫn chiếu trong biên bản kiểm tra, mô tả hành vi để người thực thi Quyết định kiểm tra đối chiếu, xem xét.

Vì Kế hoạch kiểm tra có nhiều lĩnh vực, ngành nghề, và mỗi ngành nghề lại có một nội dung kiểm tra riêng đặt thù theo lĩnh vực, ngành nghề đó. Do đó, khi xây dựng nội dung của kế hoạch kiểm tra cần chú ý:

1. Xây dựng nhóm nội dung kiểm tra theo từng lĩnh vực, ngành nghề riêng.

2. Vì Nội dung kiểm tra của kế hoạch có nhiều nội dung, nên lưu ý các quy định pháp luật có thể bao trùm, đan xen nhau, vì thế cần xây dựng tách bạch các nội dung, ví dụ: Đối với cá nhân/ tổ chức kinh doanh, Nếu đã có nội dung kiểm tra việc chấp hành pháp luật về nhãn hàng hóa, lại có nội dung kiểm tra việc chấp hành pháp luật về sử dụng dấu hợp quy, thì khi đã kết luật hàng hóa không có dấu hợp quy thì không thê kết luật chấp hành tốt quy định về nhãn được.

3. Việc xây dựng kế hoạch kiểm tra phải trên cơ sở nhu cầu quản lý, mục tiêu đánh giá.. của cấp có thẩm quyền, vì thế. Việc xây dựng Nội dung kiểm tra trong kế hoạch kiểm tra cũng phải cụ thể, không ghi chung chung để tránh khó khăn cho người thực thi quyết định kiểm tra căn cứ trên kế hoạch kiểm tra, đồng thời không trọng tâm, trọng điểm, xa rời mục tiêu, nhu cầu đánh giá của cấp có thẩm quyền.

Kính mong các đồng nghiệp cùng thảo luận cụ thể nội dung trên. 

0 bình luận0 lượt chia sẻ

Cộng đồng