Hiện nay mình thấy việc đẫn chiếu quy định được sửa đổi, bổ sung vẫn chưa thông nhất, Vấn đề này cũng chưa có một quy định cụ thể, một số văn bản hướng dẫn cũng chỉ nêu rõ là “tài liệu tham khảo”.
Một số quy định liên quan mà ta cần nghiên cứu để áp dụng:
Tại Phụ lục Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ về công tác văn thư có quy định: "Khi viện dẫn lần đầu văn bản có liên quan, phải ghi đầy đủ tên loại, số, ký hiệu của văn bản, thời gian ban hành văn bản, tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và trích yếu nội dung văn bản (đối với Luật và Pháp lệnh chỉ ghi tên loại và tên của Luật, Pháp lệnh); trong các lần viện dẫn tiếp theo, chỉ ghi tên loại và số, ký hiệu của văn bản đó". Đồng thời, theo tinh thần tại khoản 1 Điều 68 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP:
“1. Việc viện dẫn văn bản được thực hiện như sau:
a) Đối với văn bản được viện dẫn là luật, pháp lệnh, khi viện dẫn phải ghi đầy đủ tên văn bản và số, ký hiệu của văn bản; đối với văn bản đã được sửa đổi, bổ sung thì ghi thêm sau tên văn bản, số, ký hiệu của văn bản cụm từ “được sửa đổi, bổ sung bởi” và tên loại văn bản, số, ký hiệu của văn bản sửa đổi, bổ sung; trường hợp được sửa đổi, bổ sung nhiều lần thì từ lần sửa đổi, bổ sung lần thứ hai trở đi chỉ ghi tên loại văn bản, số, ký hiệu của văn bản sửa đổi, bổ sung;
Lần viện dẫn tiếp theo, ghi tên loại văn bản, số, ký hiệu của văn bản; đối với văn bản đã được sửa đổi, bổ sung thì ghi thêm sau số, ký hiệu của văn bản cụm từ “được sửa đổi, bổ sung bởi” và tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản;
b) Đối với văn bản khác, khi viện dẫn lần đầu phải ghi tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản và tên gọi của văn bản. Đối với văn bản đã được sửa đổi, bổ sung thì ghi thêm sau tên gọi của văn bản cụm từ “được sửa đổi, bổ sung bởi” và tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản; trường hợp được sửa đổi, bổ sung nhiều lần thì từ lần thứ hai trở đi chỉ ghi tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản.
Lần viện dẫn tiếp theo, ghi tên loại văn bản, số, ký hiệu của văn bản; đối với văn bản đã được sửa đổi, bổ sung thì ghi thêm sau số, ký hiệu của văn bản cụm từ “được sửa đổi, bổ sung bởi” và tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản.”
Chúng ta đi phân tích một trường hợp cụ thể để tìm ra cách thức thể hiện phù họp nhất, đó là tình huống lên quan đến hành vi: “Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ”
Tại Nghị định số 98/2020/NĐ-CP hành vi này được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 17.
Tại điểm a khoản 3 Điều 1 Nghị định số 24/2025/NĐ-CP sửa đổi đổi tên Điều 17 và sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 17: hành vi này được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17.
Thực tế, anh em đang làm theo một văn bản hướng dẫn gần nhất theo hướng:
“điểm khoản điều ở văn bản gốc” + “tên Văn bản gốc” + “được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại” + ”điểm khoản điều có chứa quy định sửa đổi ‘điểm khoản điều ở văn bản gốc’ ở văn bản sửa đổi, bổ sung”+ tên Văn bản sửa đổi, bổ sung”.
Tức là: trong trường hợp cụ thể trên, khi dẫn chiếu lần đầu sẽ ghi là:
Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 3 Điều 1 Nghị định số 24/2025/NĐ-CP.
Mặc dù cách viện dẫn cũ rất phổ biến và dễ tra cứu ngược dòng lịch sử văn bản khi chỉ qua một lần sửa đổi, nhưng khi đặt vào bối cảnh hệ thống pháp lý hiện tại, nó bộc lộ ba điểm yếu chí mạng:
-Thứ nhất, xung đột về mặt hiệu lực và logic ngữ văn: Khi Nghị định số 24/2025/NĐ-CP có hiệu lực, nó đã thay thế hoàn toàn cấu trúc cũ của khoản 1 Điều 17. Về mặt pháp lý, "điểm c khoản 1" tại văn bản gốc không còn tồn tại cấu trúc đó nữa, mà đã chuyển thành "điểm a khoản 1". Việc tiếp tục viện dẫn "điểm c khoản 1 Điều 17 Nghị định 98..." là viện dẫn vào một điều khoản đã bị khai tử/thay thế, không phản ánh đúng trạng thái pháp luật tại thời điểm lập biên bản.
-Thứ hai, bất khả thi khi văn bản bị sửa đổi, bổ sung nhiều lần: Hành vi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ thực tế còn chịu sự điều chỉnh liên đới của Nghị định số 17/2022/NĐ-CP (vẫn đang có hiệu lực). Nếu áp dụng công thức cũ cho một điều khoản bị xé lẻ, sửa đổi bởi 2-3 văn bản khác nhau, câu văn viện dẫn sẽ trở nên cực kỳ dài dòng, rối rắm và không thể xác định nổi đâu là "điểm, khoản" gốc cuối cùng cần áp dụng.
-Thứ ba, không áp dụng được cho trường hợp "Bổ sung": Nếu văn bản mới bổ sung hẳn một "điểm đ" hoàn toàn mới vào sau "điểm d" của văn bản gốc, thì văn bản gốc làm gì có "điểm đ" để mà viết theo công thức: [điểm đ văn bản gốc] + được bổ sung tại [văn bản mới]. Cách viết này hoàn toàn bị bế tắc về mặt logic.
Chúng ta cũng cần lưu ý, trước khi có Nghị định số 24/2025/NĐ-CP thì đã có Nghị định số 17/2022/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Nghị định số 98/2020/NĐ-CP và Nghị định số 17/2022/NĐ-CP vẫn còn hiệu lực và mang các yếu tố ảnh hưởng, liên quan đến hành vi “Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ”.
Để xử lý triệt để các vướng mắc trên, đảm bảo đúng tinh thần Khoản 1 Điều 68 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, chúng ta cần thay đổi tư duy: Viện dẫn địa chỉ điều khoản theo trạng thái đã hợp nhất (đang có hiệu lực tại thời điểm áp dụng), sau đó định danh toàn bộ tập hợp các văn bản làm nên trạng thái đó.
Công thức đề xuất:
"Điểm, khoản, điều hiện tại sau hợp nhất" + "Tên văn bản gốc" +"được sửa đổi, bổ sung bởi" + "Tên các văn bản sửa đổi theo thứ tự thời gian".
Trong đó: ("Tên văn bản gốc" +"được sửa đổi, bổ sung bởi" + "Tên các văn bản sửa đổi theo thứ tự thời gian") là cách trình bày thay thế cho văn bản hợp nhất.
Ví dụ: với trường hợp cu thể của hành vi ” Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ”, trong trường hợp viện dẫn lần đầu, chúng ta sẽ ghi là:
Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2022/NĐ-CP và Nghị định số 24/2025/NĐ-CP.
Ưu điểm vượt trội của phương pháp đề xuất:
Thứ nhất: Tính chính xác tuyệt đối: Chỉ rõ "địa chỉ" điều khoản đang trực tiếp có hiệu lực áp dụng tại thời điểm xử lý vi phạm (điểm a khoản 1 Điều 17), tránh việc người vi phạm bắt bẻ "điểm c không còn tồn tại".
- Thứ hai: Bao quát toàn diện và khoa học: Tuân thủ hoàn hảo tinh thần kỹ thuật lập pháp tại Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, đồng thời giúp người đọc nhìn rõ được "lịch sử biến động" của văn bản thông qua việc liệt kê các văn bản sửa đổi liên tiếp (Nghị định 17 rồi đến Nghị định 24).
- Thứ 3: Tính vạn năng: Áp dụng trơn tru cho mọi trường hợp, dù điều khoản đó là Sửa đổi (thay thế nội dung cũ) hay Bổ sung (thêm nội dung hoàn toàn mới).
(Chú ý: Cần phân biệt "Viện dẫn" và "Căn cứ": Theo phụ lục của Nghị định 30/2020/NĐ-CP: "Căn cứ ban hành văn bản bao gồm văn bản quy định thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và các văn bản quy định nội dung, cơ sở để ban hành văn bản. Căn cứ ban hành văn bản được ghi đầy đủ tên loại văn bản, số, ký hiệu, cơ quan ban hành, ngày tháng năm ban hành văn bản và trích yếu nội dung văn bản (riêng Luật, Pháp lệnh không ghi số, ký hiệu, cơ quan ban hành)."
Kính mời các anh chị em đồng nghiệp tiếp tục thảo luận, làm rõ..